Tướng Giáp và triết lý “hạnh phúc của người cầm quân”

Share on FacebookShare on Google+Pin on PinterestTweet about this on TwitterShare on LinkedInEmail this to someone

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người cuối cùng của thế hệ các nhà cách mạng lập quốc đã qua đời, nhưng triết lý về hạnh phúc của người cầm quân mà ông đưa ra sẽ còn tỏa sáng trên mọi lĩnh vực.

Đại tướng đã sang tuổi 103, sự ra đi của ông hẳn thật nhẹ nhàng. Đại tướng sẽ rất vui khi được gặp lại cha mẹ, Cụ Hồ và những người đồng đội cũ. Bởi thế, chúng ta cũng không nên đau buồn nhiều. Có chăng chỉ là một sự tưởng nhớ.

Báo chí nước ngoài giật tít: “One of greastest general of history” (Một trong những vị tướng vĩ đại nhất của lịch sử), cho thấy sự nghiệp của ông đã lừng lẫy năm châu. Cũng chẳng cần chúng ta phải vinh danh xưng tụng.

Nghĩa vụ của chúng ta, những người đang sống, là tìm cách hiểu và học được những gì mà thế hệ của ông, có lẽ là thế hệ những người Việt Nam xuất sắc nhất trong lịch sử, để lại. Để có thể bước tiếp con đường. Để sau này, đến lúc chúng ta gặp lại ông và các đồng đội của ông, cũng không có gì phải hổ thẹn. Là chúng ta đã cố gắng hết sức mình.

Vo Nguyen Giap 1

“9 năm làm một Điện Biên”

Ngày 22/12/1944, đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. 34 chiến sĩ chân đất, 2 khẩu súng thập (tiểu liên), 17 khẩu súng trường giáp 5, giáp 3, và 150 viên đạn, còn lại là súng kíp, mã tấu, giáo mác.

Ngày 7/5/1954, 5 sư đoàn quân đội nhân dân Việt Nam, bao vây và tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Điện Biên Phủ do 16.000 quân Pháp đồn trú, có đầy đủ máy bay, pháo binh và xe tăng yểm trợ, bắt sống gần 12.000 tù binh.

Giữa hai thời điểm đấy chỉ là 9 năm, 4 tháng, 15 ngày! Từ trong rừng sâu, Võ Nguyên Giáp đã trở thành vị tướng đầu tiên của châu Á đánh bại về quân sự đối với quân đội của một cường quốc châu Âu. Một cách tâm phục, khẩu phục.

Cứ mỗi khi đọc lại số liệu về hai sự kiện này, tôi lại thấy như câu chuyện Thánh Gióng cũng không hoàn toàn là hoang tưởng.

Và đằng những sự kiện này, chắc phải chứa đựng rất nhiều những bài học bổ ích.

Khi được đài truyền hình Pháp phỏng vấn năm 1981 về tướng Navarre, đối thủ trực tiếp của ông, Võ Nguyên Giáp đã nói: “Navarre là một tướng có tài, thua trận không phải là lỗi của ông ta, mà là lỗi của những người bắt đầu cuộc chiến”. Luận điểm này được khẳng định rõ hơn khi trả lời câu hỏi “Vào thời điểm nào thì ông cảm nhận là các ông sẽ thắng?” mà cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara đặt ra, đại tướng đã không chần chừ một phút khẳng định: “Chúng tôi biết là chúng tôi sẽ thắng ngay từ ngày đầu tiên”.

Đây không phải là những lời khoa trương của một người thắng trận. Đây là tâm huyết, đúc kết một minh triết về quân sự, cũng đúng cho bất cứ một cuộc đối đầu nào khác giữa những nước nhỏ và các cường quốc. Đó là tâm huyết của một quân đội sinh ra từ nhân dân, luôn tâm niệm giành được sự ủng hộ của nhân dân, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, và dựa vào nhân dân để chiến thắng.

Các chiến sĩ thi đua trong Chiến dịch Điện Biên Phủ vui mừng công kênh Đại tướng-Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tại lễ mừng công (ngày 13.5.1954).

dai tuong vo nguyen giap

Các chiến sĩ thi đua trong Chiến dịch Điện Biên Phủ vui mừng công kênh Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tại lễ mừng công ngày 13/5/1954. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”

Vũ trang nhân dân

Quay lại với bối cảnh lịch sử Việt Nam thời đó, ngày 20/6/1940, Paris thất thủ trong chiến tranh thế giới thứ hai. Ngay sau đó mấy ngày Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị cho các đồng chí của mình, trong đó có Võ Nguyên Giáp, lúc đó đang ở Quế Lâm, Trung Quốc: “Thất bại của Pháp là cơ hội to lớn của cách mạng Việt Nam, chúng ta phải ngay lập tức tìm đường về nước để lợi dụng cơ hội này”.

Khi ai đó hỏi, chúng ta sẽ lấy vũ khí ở đâu? Nguyễn Ái Quốc trả lời: “Đây là vấn đề quan trọng nhất của cách mạng. Nếu chúng ta có vũ khí bây giờ, ai sẽ là người cầm vũ khí. Vì vậy chúng ta phải về nước và động viên quần chúng. Khi nhân dân đứng dậy, họ sẽ có vũ khí!”.

Chính triết lý về chiến tranh vũ trang như vậy, đã đưa cụ Hồ đến quyết định chọn Võ Nguyên Giáp, một giáo viên nhưng đặc biệt ham thích lịch sử quân sự, làm người đứng đầu tổ chức vũ trang đầu tiên của Việt Minh. Sau này khi các phóng viên phỏng vấn Võ Nguyên Giáp về việc tại sao lại chọn ngành quân sự, ông đều bảo: “Cái này các đồng chí phải đi hỏi cụ Hồ”. Chính Tướng Giáp cũng đã thắc mắc rằng: “Cháu không quen việc quân sự”, và đã được cụ Hồ động viên: “Cứ làm đi rồi sẽ quen”.

Trong chỉ thị viết trên vỏ bao thuốc lá, gửi cho Võ Nguyên Giáp ngày 22/12/1944, Hồ Chí Minh đã viết: “Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân có nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền…. Cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân….Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có các đội đàn em khác. Tuy lúc đầu qui mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó là rất vẻ vang, nó là khởi điểm của giải phóng quân, đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam ta”.

Tại hội nghị đặc biệt của Bộ Chính trị tháng 10/1961, bàn về chiến lược đánh Mỹ, có đầy đủ các tướng lĩnh đang hừng hực khí thế sau Điện Biên Phủ, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng Mỹ mạnh hơn Pháp rất nhiều về mặt quân sự và bất cứ ý tưởng nào lấy vũ lực để chọi vũ lực trong cuộc chiến mới sẽ thất bại. Sức mạnh của các lực lượng cách mạng nằm trong lĩnh vực chính trị, vì thế cụ Hồ đã đề ra sách lược gồm 3 thành tố: chiến tranh du kích, phát động quần chúng, và đặc biệt quan trọng là giành được sự ủng hộ của nhân dân toàn thế giới.

Là người đồng chí và học trò thân cận nhất của cụ Hồ, Võ Nguyên Giáp hẳn đã rất thấm nhuần quan điểm quân sự của Hồ Chí Minh. Quân đội của ông luôn ở trong dân. Như ông đã viết: “Vị đại tướng vĩ đại nhất của Việt Nam là nhân dân Việt Nam”.

Năm 1947, chính ông đã phát hiện ra một đại đội chủ lực được báo cáo là đã bị tiêu diệt, trên thực tế vẫn tồn tại và chiến đấu ngay trong lòng địch ở Bắc Ninh. Đại đội này nhờ biết cách dựa vào dân để chiến đấu, được dân tin yêu gọi là Đại đội nghĩa quân. Võ Nguyên Giáp đã viết trong cuốn “Chiến đấu giữa vòng vây”: “Như vậy không ít những vấn đề nêu trong nghị quyết đã được thực hiện sáng tạo ở mức cơ sở. Chiến thuật đại đội độc lập mở ra những khả năng rất to lớn cho cuộc kháng chiến lâu dài”.

Khi ra quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân của mình: hoãn cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ đêm 26/1/1954, hẳn ông đã nghĩ rất nhiều đến nhân dân. Đến sự hy sinh của những người lính. Đến trách nhiệm của ông với lời dặn của Cụ Hồ: “Tướng quân tại ngoại, chú toàn quyết quyết định. Đánh trận này chắc chắn phải chiến thắng. Không chắc thắng không đánh!”.

Một trận đánh lớn vinh danh người chỉ huy theo kiểu “không thành công sẽ thành nhân”, có thể phù hợp với triết lý thông thường, nhưng một thất bại, dù nhỏ sẽ để lại những hậu quả tâm lý khôn lường cho đội quân có tên là Tuyên truyền Giải phóng quân. Đội quân đó phải biết cách xây dựng niềm tin của nhân dân qua hàng loạt các chiến thắng dù nhỏ.

Tiểu đoàn 307 nổi tiếng “đánh đâu được đấy” cũng nhờ áp dụng triết lý xuyên suốt: “Yếu hơn trên toàn mặt trận, nhưng phải mạnh hơn trên từng trận đánh”.

Một số sử gia quân sự phương Tây, trong cố gắng làm giảm hào quang của ông, thường miêu tả ông chẳng qua chỉ là một viên tướng giỏi hậu cần và gặp may. Họ vô tình quên mất rằng, chính điều đó càng vinh danh ông và các đồng chí mình hơn với triết lý: dựa vào dân mà chiến thắng.

Tiếp tế luôn là một vấn đề sống còn của mọi đạo quân. Navarre đã không tin là có thể tiếp tế lương thực và đạn dược cho hàng chục ngàn quân Việt Minh bao vây Điện Biên Phủ vì xung quanh toàn là rừng núi hiểm trở mà Việt Minh thì không có máy bay. Bởi thế ông ta ung dung cho quân nhảy dù xuống thung lũng. Ông ta hẳn phải rất ngạc nhiên khi biết chiến dịch tiếp vận phi thường đấy được hàng trăm ngàn dân công thực hiện chỉ bằng một công cụ hết sức đơn giản là chiếc xe đạp thồ.

Sau này, nếu chỉ được chọn ra một lý do khiến Mỹ phải thất bại ở Việt Nam, rất nhiều những nhà nghiên cứu quân sự đã đi đến kết luận rằng đó là việc Mỹ không thể chặn đứng con đường tiếp tế qua hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh. McNamara phải thừa nhận, dù đã sử dụng tất cả những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất như B52, hàng rào điện tử, hay dã man nhất như chất diệt cỏ, bom bi và napal, quân đội Mỹ đã bất lực trong việc bóp nghẹt đường mòn Hồ Chí Minh. Họ không hiểu đó là con đường được xây trong lòng dân, con đường dẫn đến tự do như tác giả Mỹ Virginia Morris đã viết trong cuốn sách: “The Road to Freedom” (Đường đến tự do).

Hạnh phúc lớn nhất của người cầm quân

Cá nhân tôi, dù chưa và sẽ chẳng bao giờ có dịp được ngồi đàm đạo với Đại tướng, nhưng những lần gặp gỡ ông cùng các đồng nghiệp ở công ty, các câu chuyện do đàn anh kể lại, những sách vở mà tôi tự sưu tầm và tìm hiểu đã hướng dẫn tôi rất nhiều trong sự nghiệp nhỏ nhoi của mình.

Với nhân viên, tôi bao giờ cũng đặt tuyên truyền lên trên công nghệ và tài chính. Tôi phải tin và phải hành động hết sức mình cho các bạn ấy tin sự nghiệp mà chúng tôi cùng làm trước hết là đáp ứng nguyện vọng của chính các bạn ấy. Đáp lại, những quyết định kinh doanh lớn, những dự án khó khăn và mạo hiểm tại công ty tôi, rốt cục đều do các nhân viên tự quyết định và thực hiện thành công. Từ đại sự như mở chi nhánh ở nước ngoài hay tiểu tiết như dẫn khách đi tham quan Hà Nội, trong rất nhiều trường hợp, việc của tôi là chỉ đến dự nghi lễ trọng thể.

Tôi cũng có những trải nghiệm cay đắng với việc đã đánh phải chắc thắng. Hồi năm 2000, chúng tôi đã ngông cuồng khi tưởng rằng trình độ vớ vẩn của mình đã đủ sức chinh phục thế giới. Những thất bại liên tiếp đã làm chấn động tinh thần anh em, gây nên sự nghi ngờ ngay cả trong những người ủng hộ. Áp dụng bài học Đại đội độc lập của đại tướng, chúng tôi đã nhanh chóng chia nhỏ qui mô đơn vị vào năm 2001, thả các nhóm vào nhân dân, đánh từng trận nhỏ để gây dựng lại lòng tin. Đến năm 2002, chúng tôi bắt đầu có lãi.

Tôi cũng hoàn toàn chia sẻ quan điểm về hậu cần nhân dân của quân đội ta. Tại công ty mình, tôi đã làm hết sức để nâng cao vai trò của hậu cần, đổi tên các đơn vị Back Office (Văn phòng), thành các đơn vị Business Assurance (Bảo đảm kinh doanh), bổ nhiệm một salesman chuyên bán mì ăn liền vào vị trí giám đốc tuyển dụng, đổi tên “phòng truyền thông” thành “phòng truyền thông và marketing”, tìm cách thuyết phục những ngôi sao sáng nhất trong kỹ thuật và kinh doanh chuyển sang BA.

Mỗi khi chúng ta gặp khó khăn, hãy tìm về quãng thời gian 9 năm, 4 tháng 15 ngày từ 22/12/1944 tới 7/5/1954. Tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ được tiếp thêm năng lượng để vững vàng vượt qua thử thách.

Năm 2008, sau khi tổ chức cho các lập trình viên đi gặp chúc thọ Đại tướng, tôi đã rất xúc động khi một em viết lại cho tôi: “Đây là món quà lớn nhất trong đời mà anh có thể tặng cho em. Cám ơn anh”.

Vĩnh biệt Đại tướng, người anh cả của một quân đội “vì nhân dân quên mình”.

Tôi sẽ luôn nhớ mãi lời dạy của ông: “Hạnh phúc lớn nhất của người cầm quân là được ở bên chiến sĩ trên chiến trường”.

Nguồn:  Thành Nam – VNExpress

VN:F [1.9.22_1171]
0
Rating: 5.0/5 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
Tướng Giáp và triết lý "hạnh phúc của người cầm quân", 5.0 out of 5 based on 1 rating
Share on FacebookShare on Google+Pin on PinterestTweet about this on TwitterShare on LinkedInEmail this to someone

Bình luận về bài viết

bình luận


Comments

  1. Reply

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *